Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ sáu 26/02/2021 19:19

"Được mùa" hiệp định thương mại tự do

07:10 | 10/02/2016
Đất nước đang mở cửa và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Chính phủ đã và đang đàm phán trên 10 hiệp định thương mại tự do với mức độ cam kết và tự do hóa cao hơn các hiệp định CEPT/AFTA và WTO, cả về hàng hóa, dịch vụ và những lĩnh vực khác như văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng...
Hiệp định Thương mại EU - Việt Nam đã chính thức kết thúc đàm phán

1. Tính đến thời điểm này, Việt Nam là quốc gia có dân số trên 93 triệu người, có "vai vế" về mức độ mở cửa tự do hóa ở khu vực, chỉ sau Singapore và Hong Kong. Các hiệp định thương mại tự do có mức độ, phạm vi tác động và mức lan tỏa tới nền kinh tế và xã hội khác nhau. FTA song phương như với Hàn Quốc chỉ tác động tới thương mại 2 nước. Nhưng các FTA khu vực và đa phương sẽ tác động đến nhiều nước.

FTA với Á - Âu với Nga và các nước Đông Âu có GDP trên 4.000 tỷ USD là thị trường có công nghệ và cần nhiều hàng tiêu dùng.

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tác động lên một thị trường có 800 triệu dân, chiếm 40% GDP của thế giới, 30% thương mại toàn cầu, là thị trường có vốn công nghệ và cần những hàng tiêu dùng chất lượng cao.

FTA với EU là thị trường có 500 triệu dân với mức thu nhập 27.400 Euro trên đầu người/năm; GDP khoảng 17.300 tỉ Euro- là thị trường vốn, công nghệ cao và cần hàng tiêu dùng có chất lượng cao.

Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) cũng là thị trường đông dân với dân số trên 600 triệu người, GDP gần 3.000 tỉ USD; có nhiều sản phẩm giống Việt Nam. Ngoài hợp tác kinh tế, nước ta còn hợp tác với các nước trong khối về an ninh quốc phòng, văn hóa, xã hội với mục tiêu xây dựng một cộng đồng thịnh vượng trong đa dạng văn hóa, chế độ chính trị, xã hội và tôn giáo.

2. Doanh nghiệp mừng là có thị trường rộng lớn của trên 50 quốc gia, gồm 28 nước EU, 9 nước ASEAN, 11 nước TPP, 5 nước Á-Âu và Hàn Quốc. Hầu hết các mặt hàng như may mặc, giày dép, hàng tiêu dùng, nông - thủy sản chế biến... thuế về 0 - 5% sẽ tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu và nhập khẩu các mặt hàng công nghệ cao từ các nước này.

Nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ tăng, để sản xuất hàng hóa tiêu thụ tại Việt Nam và tận dụng lợi thế lao động trẻ có mức lương cạnh tranh so với Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia sản xuất và xuất khẩu ra các nước Việt Nam tham gia FTA.

Hạn chế thấp nhất các rào cản thương mại cho hàng Việt Nam, nên Việt Nam có cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu và tăng thu ngoại tệ để trả nợ nước ngoài.

Nhập khẩu các công nghệ tiên tiến, học tập các kỹ năng quản lý và điều hành sản xuất, kinh doanh tiên tiến. Đẩy mạnh thương mại điện tử cả trong nước và thị trường nước ngoài, giảm chi phí quản lý, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ.

Đến nay đã có 57 nước công nhận nền kinh tế thị trường của Việt Nam. Khi TPP và FTA với EU có hiệu lực, Hoa Kỳ và EU sẽ công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Đây sẽ là cơ hội để hàng hóa Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam được đối xử bình đẳng hơn. Hạn mức tín dụng quốc tế sẽ cao hơn, chi phí rủi ro sẽ thấp hơn. Bên cạnh đó, những vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp (nếu có) sẽ được xem xét công bằng hơn theo quy định của các hiệp định này của WTO.

3. Ông cha ta đã có câu: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành hòm núi cao. Một người làm chẳng được bao, ba người họp lại việc nào cũng xong”. Các doanh nghiệp phải biết tạo thị trường cho nhau. Tăng cường vai trò của các hiệp hội ngành hàng để đảm bảo sự liên kết và giữ thị trường như các hiệp hội Nhật Bản và các nước đang làm khi chính phủ mở cửa, nhưng hàng hóa nước khác khó vào cạnh tranh được. Hơn nữa, hiệp hội sẽ đảm đương các chức năng mà chính phủ không phải làm như tham gia khởi kiện để giữ cho sản xuất và kinh doanh mặt hàng đó. Ví dụ, Hiệp hội nuôi cá Hoa Kỳ kiến nghị với chính phủ Hoa Kỳ đưa ra quy định các điều kiện nhập khẩu cá tra và cá ba sa vào thị trường nước này theo lộ trình được công bố trước hai năm.

Các doanh nghiệp phải nhanh chóng đầu tư vào khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin. Đầu tư để nâng cao nguồn lực, nâng cao trình độ ngoại ngữ và năng lực quản trị doanh nghiệp, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây là yếu tố quyết định việc thành bại của doanh nghiệp.

Cần nghiên cứu kỹ các hiệp định FTA và xây dựng chiến lược mới về thị trường, sản phẩm, thương hiệu. Mạnh dạn đầu tư công nghệ mới phù hợp, đào tạo đội ngũ cán bộ và về nghiệp vụ ngoại ngữ, quản trị để nâng cao năng lực cạnh tranh. Mở rộng mạng lưới tiêu thụ trong và ngoài nước theo hình thức kinh doanh chuỗi. Thay đổi cách tư duy sản phẩm sản xuất ra không chỉ dựa trên 93 triệu người Việt Nam, mà phải nghĩ sản phẩm cho thị trường 600 triệu người AEC, 800 triệu người TPP, 500 triệu người FTA EU, 400 triệu người Á - Âu. Như cách làm của Vinamilk, Tôn Hoa Sen, Viettel....

Nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường trong nước theo lộ trình mở cửa từng lĩnh vực để xây dựng lộ trình mở rộng sản xuất và mạng lưới tiêu thụ. Đăng ký thương hiệu, các phần mềm quản trị và kế toán với các cơ quan quản lý để bảo vệ cho mình.

Tăng cường công tác pháp chế, quản lý tài chính và quản trị rủi ro, lợi ích trước mắt và lâu dài, mạnh dạn thuê các chuyên gia giỏi.

4. Người châu Âu có câu “no challenge, no life” hoặc “no venture, no business”, tạm dịch là "không có thử thách thì không có cuộc sống", hay "không phiêu lưu mạo hiểm thì không được gì". Người Việt Nam cũng có câu “lửa thử vàng, gian nan thử sức”.

Cánh cửa hội nhập đang mở rộng hơn bao giờ hết, tạo ra rất nhiều cơ hội, song cũng đặt ra rất nhiều thách thức cho các doanh nghiệp. Biết tận dụng về thị trường vốn, công nghệ, nguồn lực con người, biết vượt qua thách thức, cơ hội sẽ được nhân lên gấp bội cho những doanh nghiệp biết nắm bắt thời cơ...

Lương Văn Tự