Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ hai 23/11/2020 23:06

Làn sóng “Việt Nam+1” của Nhật Bản đang trở lại

15:06 | 19/10/2020
Khi Nhật Bản tìm cách đa dạng hóa các khoản đầu tư ra ngoài Trung Quốc, Việt Nam có cơ hội thu hút đầu tư quốc tế lớn hơn. Trong vài năm qua, các công ty đầu tư vào Trung Quốc đã bắt đầu đa dạng hóa các điểm đến đầu tư và giảm bớt sự phụ thuộc quá mức đối với Trung Quốc, trong cái gọi là “Chiến lược Trung Quốc cộng một”. Đây là kết quả của việc chi phí lao động tăng cao và những cải cách cơ cấu đang diễn ra ở Trung Quốc.

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, Việt Nam có tiềm năng lớn để thu hút sự quan tâm của các công ty nước ngoài đang tìm kiếm điểm đến cho khoản đầu tư tiếp theo và trở thành một làn sóng “cộng một” mới. Việt Nam có lực lượng lao động trẻ và có trình độ học vấn cao, thị trường nội địa lớn và lợi thế địa lý. Nếu Việt Nam có thể tạo ra các điều kiện thích hợp, thì Việt Nam có thể đạt được những gì mà các nền kinh tế mới công nghiệp hóa và Trung Quốc có về phát triển kinh tế lớn hơn.

Làn sóng “Việt Nam+1” của Nhật Bản đang trở lại
Ảnh minh họa

Trong những năm gần đây, các công ty Nhật Bản đã tích cực hơn theo đuổi “Chiến lược Trung Quốc cộng một”. Trong khi dòng vốn FDI của Nhật Bản vào Trung Quốc giảm dần thì dòng vốn vào ASEAN đã tăng lên trong thập kỷ qua - hiện dòng vốn FDI hàng năm của Nhật Bản vào ASEAN đã vượt qua đầu tư vào Trung Quốc.

Theo một cuộc khảo sát do Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản thực hiện, Trung Quốc lần đầu tiên mất vị trí hàng đầu như một điểm đến đầu tư đầy hứa hẹn theo nhận định của các công ty Nhật Bản. Điểm đến hàng đầu hiện nay là Indonesia - tiếp theo là Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng điều này không nhất thiết có nghĩa là các công ty Nhật Bản đang rút khỏi Trung Quốc: mà là tìm kiếm các điểm đầu tư mới trong khi tiếp tục duy trì các cơ sở đã có ở thị trường Trung Quốc.

Việt Nam là một trong những điểm đến được ưa chuộng hơn đối với đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản. Khối lượng đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là kể từ khi Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản có hiệu lực vào năm 2009. Các ngành mà Nhật Bản đầu tư nhiều nhất là thiết bị giao thông và máy móc điện cho lĩnh vực sản xuất. Việt Nam là thị trường xe máy lớn thứ tư thế giới, vì vậy các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản như Honda và Yamaha cũng như các nhà cung cấp linh kiện và phụ tùng đã đầu tư tích cực vào Việt Nam.

Các công ty điện tử Nhật Bản cũng tăng cường đầu tư, một phần do Samsung thành lập nhà máy sản xuất điện thoại di động để sản xuất dòng điện thoại thông minh. Panasonic đã tìm kiếm cơ hội thị trường cho các thiết bị điện gia dụng và coi Việt Nam là một phần quan trọng trong khối các thị trường mới nổi rộng lớn hơn. Đối với các lĩnh vực phi sản xuất, các khoản đầu tư đáng kể đã được thực hiện vào các ngành tài chính và bảo hiểm.

Việt Nam đã nỗ lực tạo ra một môi trường ổn định và thuận lợi cho đầu tư nước ngoài, tuy nhiên vẫn còn một số trở ngại nhất định, như thiếu các ngành công nghiệp hỗ trợ, cơ sở hạ tầng không đầy đủ,…. Việt Nam đã đi theo mô hình sản xuất điển hình của Đông Á bằng cách tham gia vào thương mại nội khối đối với hàng hóa sơ cấp và trung gian và xuất khẩu hàng hóa cuối cùng sang các thị trường tiên tiến. Nhưng các doanh nghiệp xuất khẩu ở Việt Nam hầu hết là các công ty nước ngoài mua nguyên liệu và hàng hóa trung gian từ nước ngoài. Có rất ít sự tích hợp chuỗi giá trị giữa các công ty xuất khẩu lớn và các công ty cung cấp trong nước. Kết quả là, xuất khẩu sản xuất gia tăng của Việt Nam không đóng góp nhiều vào việc giảm thâm hụt tài khoản vãng lai. Do đó, nuôi dưỡng các nhà cung cấp trong nước có khả năng cạnh tranh là một thách thức chính mà Việt Nam phải đối mặt.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) của Nhật Bản đang tìm kiếm cơ hội kinh doanh ở nước ngoài có thể tìm thấy trong mối quan hệ đôi bên cùng có lợi với Việt Nam. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản phải đối mặt với nhiều thách thức khác nhau trong môi trường kinh doanh trong nước: thị trường trong nước bị thu hẹp do dân số già, các công ty lớn ký hợp đồng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển ra nước ngoài và gia tăng cạnh tranh với các công ty nước ngoài mới nổi.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản đã tăng tốc di cư ra nước ngoài để tồn tại. Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục thúc đẩy các biện pháp để tiếp nhận các doanh nghiệp vừa và nhỏ từ Nhật Bản. Việt Nam có thể hưởng lợi từ sự lan tỏa công nghệ do FDI Nhật Bản mang lại. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhật Bản đã và đang tìm đến Việt Nam. Việc Việt Nam tiếp cận thành công đầu tư Nhật Bản sẽ giúp các ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước phát triển và do đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản sẽ có thể tận hưởng quan hệ đối tác địa phương và tiếp cận thị trường địa phương.

Cả Nhật Bản và Việt Nam đều là thành viên và đang thực thi Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) với mục tiêu thúc đẩy thương mại và đầu tư, đồng thời sẽ thúc đẩy các thay đổi cơ cấu kinh tế và công nghiệp trong nước. Điều này ban đầu sẽ có những khó khăn, đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, những nước sẽ cần một quá trình nâng cấp cơ sở công nghiệp một cách chiến lược. Trong bối cảnh đó, Nhật Bản và Việt Nam là những đối tác quan trọng của nhau và cả hai nước sẽ được hưởng lợi từ các mối quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn và hợp tác nhiều hơn.

Việt Dũng